ĐỘC TỬU ĐÊM XUÂN
Canh một. Ly đầy cho ta
Nếm trong men ấy phôi pha bao điều.
Trắng tay vì giọt rượu yêu
Đêm nay sãi một cánh diều chờ xuân.
Canh hai. Ly nữa chúc mừng
Đưa ta sang bến ngũ tuần lâm li...
Rượu ngâm hết tuổi xuân thì
Mình ta uống cạn có chi muộn phiền.
Canh ba. Giọt rượu thuyền duyên
Cố nhân trắng đáy ưu phiền từng canh.
Vòng đời úp ngửa, chòng chành
Như vừa lai kiếp. Đã đành phận ta.
...
Canh năm. Ta khóc oa oa
Biết mình tỉnh giấc trời đà sang xuân ...
Canh Dần 2010
Trần Thế Vinh
&&&&
ĐÔI DÒNG SUY NGHỈ KHI ĐỌC "ĐỘC TỬU ĐÊM XUÂN"
Lướt qua "Độc tửu đêm xuân" ta thấy tác giả đã mượn thể thơ lục bát, lấy tiêt tấu nhịp điệu, nhẹ nhàng, trầm lắng, đều đều để diễn tả các trạng thái "Tỉnh" và "Say".
Đêm Xuân, còn gì bằng khi một mình ngồi bên ly rượi. Nhắp từng ngụm, Để cho men say ngấm dần, và tâm hồn bắt đầu lân lân. Với cảm giác lân lân ấy, quá khứ, dĩ vãng như từ từ hiện về. Tác giả vẫn ý thức được mình và nhận diện rõ về cuộc đời. "Nếm trong men ấy phôi pha bao điều". Với cặp từ " Phôi pha" Tác giả đã cho ta thấy sự chiêm nghiệm, sự hồi tưởng về quá khứ của tác giả. Phải chăng trong quá khứ, tác giả đã từng " Trắng tay"? Và sự " Trắng tay " này là nền tảng, là cơ sở để tác giả xin làm " Cánh Diều Chờ Xuân".
Một năm bắt đầu từ mùa xuân. Xuân là khởi điểm của sự bắt đầu. Tác giả khao khát, chờ đợi sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Tác giả mong đợi Xuân về như đang chờ đợi một cái gì đó mới mẽ sẽ sớm về với tác giả.
Mặc dù đã bước qua canh 2 nhưng tác giả vẫn tỉnh. Tác giả vẫn còn ý thức được rất rõ về chính mình: "Đưa ta sang bến ngũ tuần lâm ly". Tác giả biết rằng tác giả bước sang " ngũ tuần" là bước vào ngưỡng cửa xế chiều. Mà tác giả vẫn "Hiên ngang" đón nhận: " Có chi muộn phiền".
Và. Cái cần đến, đã đến! "Say" đã đến. Nếu như ở cách 1 men đã làm cho tác giả hoài niệm về cuộc đời là " Phôi pha" thì sang cách 3, men đã làm cho tác giả nhìn đời ra vẽ " úp ngữa", "Chòng chành". Nếu như ở cách 1 rượu làm cho tác giả " Trắng tay" Thì ở cách 3, rượu đã làm cho tác giả " Trắng đáy". "Say", nhưng ta thấy tác giả có sự nhận thức rất rõ. Khi nhận thức về cuộc đời thì từ " Phôi pha" chuyển sang " Chònh chành"; Còn khi nhận thức về chính mình thì từ " Trắng tay" chuyển sang " Trắng đáy". Dù ở phương diện nào thì sự nhận thức đó vẫn tăng dần có cấp độ một cách có ý thức. Cuộc đời là vô thường. Nên cuộc đời " Phôi pha", " Chòng chành" là tất yếu! Khả năng con người có hạn. Nên Tác giả " Trắng Tay" rồi đến "Trắng đáy" là điều dĩ nhiên! Không thể cưởng lại được bởi quy luật ấy. Điều quan trọng ở chổ là phải biết chấp nhận đúng nơi, đúng lúc " Đã đành phận ta" để rồi tiếp tục vươn lên.
Với ba chấm lửng ta tưởng chừng như Tác giả không nói gì. Về trạng thái sinh lý thì là sự biểu thị cho cơn say thứ hai. Nhưng về trạng thái tâm lý thì đó là một nốt lặng, một điểm dừng, một khoảng thời gian, không gian trầm lắng để chiêm nghiệm, để suy ngẩm về đời, về mình. Cuộc đời lắm lúc cũng rất cần những khoảng lặng như vậy.
Nhưng không, khoảng lặng ấy không phải là sự chấm dứt. Thời gian, không gian yên tỉnh ấy bổng cất lên tiếng "oa oa" của Tác giả. Khóc chăng? Tại sao tác giả khóc và sao tác giả không khóc " Hu Hu" mà là "oa oa"? với âm "u" trong " Hu Hu" là nguyên âm khép, môi sẽ làm cản trở luồng hơi tống ra. Còn "a" trong "oa oa" là nguyên âm mở đã giúp cho luồng hơi được tống ra bên ngoài một cách trọn vẹn. Phải chảng tác giả không muốn giữ lại những gì " Phôi pha", " chòng chành" trong quá khứ? Phải chăng tác giả muốn " Mở" hết, "tống" hết những gì "muộn phiền", để rồi đón nhận những gì đẹp đẽ, mới mẽ của năm mới?
" Oa oa" là tiếng khóc bản năng của em bé mới cất tiếng chào đời. Phải chăng Đầu Xuân tác giả mượn " Cách" khóc của em bé để gửi gắm bao điều mong mỏi, bao ước mơ tươi đẹp vào năm mới? Thay vì phải khóc "Hu Hu".
Thế là sau cơn "say" tác giả đã "tỉnh". Lần " Tỉnh" này dường như tác giả " Tươi tỉnh" hơn lần " tỉnh" trước, " khóc hỗ người, cười ra nước mắt", Tác giả mượn tiếng khóc của em bé để biểu thị nụ cười đầu Xuân cho mình. Vâng, Tác giả đã cười như Xuân tươi đẹp đã về.
Như vậy, Ta thấy đầu cơn "say" và cuối cơn "say", tác giả điều "Tỉnh" nhưng mỗi trạng thái "tỉnh" đều có sự khác nhau. Đầu cơn "say", tác giả "tỉnh" nhưng "tỉnh" trong mỏi mệt, phân vân ưu phiền. Còn trạng thái "tỉnh" sau cơn "say" lại khác. " Tỉnh giấc" tác giả đã bậc khóc "oa oa" một cách ngây thơ, thoải mái như chưa bao giờ trải qua chán chường mỏi mệt. Như chưa bao giờ có sự ưu hoài, buồn bả. Đó là sự thay đổi, sự thăng hoa của " Tỉnh" sau cơn "say". Đó là sự " lai kiếp" chuyển đổi theo hướng tinh tấn hơn, sáng sủa hơn.
"Say" để "tỉnh" và "tỉnh" để rồi "mới hơn", "đẹp hơn". Vậy phải chăng "say" nhưng không "mê"? Trong "say" đã có "tỉnh" rồi. Ôi! say như vậy thật đáng để mà say!!!
Tri Tôn, ngày 18 tháng 02 năm 2010
Lý Huynh